TỔNG QUAN THÀNH PHỐ TÂY NINH
 
Điều kiện tự nhiên.
- Vị trí địa lý. 
Thành phố Tây Ninh là trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, với tổng diện tích tự nhiên sau khi được điều chỉnh ranh giới theo Nghị định 46/2001/NĐ-CP, ngày 10/8/2001 của Chính phủ là 13.736.58 ha. Hiện nay là 14.000.000 ha, chiếm 3.41% diện tích tự nhiên của tỉnh, có toạ độ từ 106012’00’’-106012’31” kinh độ đông và 11017’21”-11033” vĩ độ bắc.
+ Phía Bắc giáp huyện Tân Biên và Tân Châu.
+ Phía Nam giáp huyện Hòa Thành.
+ Phía Đông giáp huyện Dương Minh Châu.
+ Phía Tây giáp huyện Châu Thành.
- Địa hình, diện mạo.
Tây Ninh có dáng địa hình nghiên dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, độ cao trung bình từ 8-10m, với đặc trưng ở phía Bắc có núi Bà Đen cao 986m, còn lại địa hình tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng cũng như phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Khí hậu, thời tiết.
Thành phố Tây Ninh có khí hậu đặc trưng vùng Đông nam bộ, thời tiết tương đối ôn hoà, mang tính chất nhiệt đới gió mùa, có lượng bức xạ cao và được phân bố đồng đều trong năm. Thời tiết được chia làm 02 mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Thủy văn. 
Thành phố có rạch Tây Ninh chảy qua với nguồn nước được cung cấp chủ yếu từ hệ thống các suối Trà Phí, Lâm Vồ, suối Đà và một phần nhỏ từ hệ thống sông Vàm Cỏ Đông, chế độ nước phân hoá theo mùa, dồi dào về mùa mưa, cạn kệt về mùa khô, gây nên tình trạng ngập úng và khô hạn, nhất là khu vực phía bắc Thị xã, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân các xã Bình Minh, Tân Bình, Thạnh Tân….
Các nguồn tài nguyên.
- Tài nguyên đất.

Thành phố Tây Ninh có những nhóm đất sau:
Nhóm đất xám:
Đất xám đọng mùn gley, đất xám gley, đất xám mùn, đất xám có tầng kết vón đá ong, đất xám có tầng loang lổ
Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên đá granit
Nhóm đất phèn thuỷ văn
- Tài nguyên nước
Nhìn chung chế độ thuỷ văn của thành phố Tây Ninh khá phong phú, dồi dào cả về nguồn nước mặt và nước ngầm.
Tài nguyên rừng, thảm thực vật
Toàn Thành phố có 1047 ha đất lâm nghiệp có rừng, bao gồm 120 ha rừng tự nhiên, 467 ha rừng trồng và 460 ha đất khoanh nuôi tái sinh, trong đó chủ yếu là rừng mang tính chất đặc dụng (chiếm tới 98.98% tổng diện tích rừng) được khoanh định khá rõ ở khu vực xã Thạnh Tân (núi Bà Đen).
Tài nguyên khoáng sản
Hiện tại, trên địa bàn Thành phố không có nguồn tài nguyên khoáng sản nào đang được khai thác, song theo kết quả điều tra, khảo sát cho thấy ở khu vực núi Bà Đen thuộc xã thạnh Tân có nguồn khoáng sản đá granit khá phong phú.
Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn Thành phố hiện có 08 dân tộc anh em cùng chung sống, bao gồm dân tộc Kinh, Khơme, Chăm, Hoa, Tàmun, Mường, Tày, Nùng. Trong đó, chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh.
 
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Thành phố Tây Ninh hiện có 13 di tích lịch sử và kiến trúc cổ. Trong đó 03 di tích cấp Quốc gia và 10 di tích cấp Tỉnh đã được công nhận như sau:
  • Các di tích được công nhận cấp Quốc gia:
- Núi Bà Đen - Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 100/VH-QĐ ngày 21/1/1989 của Bộ Văn hóa-Thông tin 
- Đình Hiệp Ninh - khu phố 4, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 1430/QĐ-BT ngày 12/10/1993 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin
* Về Nguồn gốc:
Tiền thân ngôi đình được nhân dân "THÁI BÌNH THÔN" xây cất trong thời kỳ thuộc huyện Tân Ninh, thờ những ngườI có công khai phá vùng đất Tân Ninh xưa. Đây là vùng đất mà năm Minh Mạng thứ V đặt tên thêm phủ Tây Ninh, lãnh 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa. Đó là 2 Trung tâm chính trị đặt lỵ sở tại thị xã Tây Ninh và Cẩm Giang ngày nay. Vùng đất này ghi nhận lịch sử thời kỳ mở đất thứ ba trên địa hạt Tây Ninh (An Tịnh; khu vực Cẩm Giang, Long Thành và khu vực thị xã). Ngôi đình hiện nay được tu sửa vào năm 1901. Vua Khải Định sắc phong Thành hoàng bổn cảnh cho đình vào ngày 18 tháng 3 năm 1917. Liên tiếp trong các năm 1923, 1926, 1927 và 1928 đình được trùng tu sửa chữa nhỏ. Đến năm 1943 được xây thêm cổng chính.
* Về Kiến trúc:
Kiến trúc đình vẫn theo hình chữ tam, gồm tiền đình, hậu đình và nhà khách. Phần chính diện có 5 gian, có gác chuông, gác trống. Tường vách 2 bên xây cao chạy dài suốt 50m. Kiến trúc nội thất gồm có 16 cây cột gỗ tròn, đường kính 30cm và 8 cây cột gạch ốp sát tường, cùng với hệ thống vì kèo, khung xuyên, đòn tay… đỡ mái ngói âm dương tạo nên một không gian nội thất rộng rãi vững chắc.
Kiến trúc nội thất kết hợp với trưng bày, bài trí đồ thờ tự như hoành phi, câu đối, bài vị, khảm thờ…toát lên sự cung kính, biết ơn những vị thần được thờ.
Đình Hiệp Ninh là một trong những nơi còn lưu giữ được nhiều hiện vật, đồ thờ tự quí giá, có giá trị về nghệ thuật và tư tưởng cao như: hàng chục hoành phi đại tự, khảm thờ Thành hoàng bổn cảnh, nghi thờ Thành hoàng bổn xứ, trang thờ đương kim thiên tử, thiên vị, kiệu thỉnh sắc, các hàng tự khí, bát bửu, phủ việc; các ban thờ tả, hữu ban, các vị cận vệ thần, tiền hiền, hậu hiền và các bô lão có công xây dựng làng xã, cùng 15 bộ câu đối (liễn), chiêng, trống, bộ rùa, đôi hạc. Đặc biệt có sắc phong và mão thần của vua Khải Định ban ngày 18 tháng 3 năm 1917.
Những đồ thờ tự này làm bằng loại gỗ quí hiếm, được chạm khắc tinh xảo như: cây cảnh, long, ly, quy, phụng với nhiều họa tiết trang trí sơn son thếp vàng hết sức lộng lẫy.
Trong Cách mạng tháng tám năm 1945, đình Hiệp Ninh đã từng là nơi tập trung luyện tập chuẩn bị cướp chính quyền tỉnh Tây Ninh của lực lượng Thanh niên tiền phong. Trong những năm 1957-1959 nơi đây là điểm liên lạc hoạt động bí mật của Tỉnh ủy và Thị xã ủy Tây Ninh.
Ngày 12 tháng 10 năm 1993, tại quyết số 1340/QĐ-BT của Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận xếp hạng đình Hiệp Ninh là Di tích lịch sử-văn hóa.
- Đình Thái Bình - khu phố 4, phường 1, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 3211/QĐ-BT ngày 12/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin
  • Các di tích được công nhận cấp Tỉnh:
- Cơ sở Tỉnh uỷ Tây Ninh - khu phố 4, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 139/QĐ-CT ngày 27/9/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. 
* Về nguồn gốc tên gọi: 
Trong giai đoạn cách mạng (1954-1960) cơ sở chỉ đạo bí mật của Tỉnh ủy Tây Ninh đặt tại nhà ông Nguyễn Văn Đạt ở ấp Thái Phú, nay là khu phố 4, thuộc phường II, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Thời kỳ này với cương vị là Tỉnh ủy viên, đồng chí Hoàng Lê Kha được Tỉnh ủy giao nhiệm vụ phụ trách quân sự làm trưởng phân ban Tỉnh ủy đồng thời phụ trách lãnh đạo địa bàn Thị xã-Châu Thành và là người “Cán bộ nằm vùng” tại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Đạt, nên ngôi nhà của ông đã trở thành di tích được gọi là cơ sở tỉnh ủy Tây Ninh.
* Về khảo tả di tích:
Cơ Sở Tỉnh ủy Tây Ninh là ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Đạt nằm ở ấp Thái Phú, nay là khu phố 4, thuộc phường II, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Từ di tích lịch sử văn hóa đình Hiệp Ninh, rẽ trái 50m là đến căn cứ. Đây là khu vực dân cư đông đúc của Thị xã, nên vị trí vừa mang yếu tố bí mật, bất ngờ, nhưng lại là nơi an toàn, bởi có lòng dân che chở. Chính vì thế, nên Tỉnh ủy Tây Ninh đã chọn nhà ông Nguyễn Văn Đạt làm cơ sở để đồng chí Hoàng Lê Kha trực tiếp “Nằm vùng” hoạt động.
Ngôi nhà cũ khi xưa là cơ sở làm bằng cây, tre, mái lợp tranh (sau lợp thiếc), vách đất trộn rơm. Nhà kiến trúc theo kiểu nhà ở dân dụng của người Nam Bộ có 3 gian, 2 mái, gian chính giữa là thờ tổ tiên, gian bên trái là nơi có “Hầm bí mật” đào sâu xuống lòng đất, phía trên hầm bí mật là bộ ván để nằm cũng là để ngụy trang. Theo gia chủ kể lại thì cặp bàn thờ tổ tiên phía bên phải có vách ngăn nơi để làm việc của đồng chí Hoàng Lê Kha.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng, hầm bí mật được mệnh danh là áo giáp sắt nằm trong rừng người, lòng dân, nó là điều kiện tiên quyết bảo đảm an toàn cho cán bộ hoạt động cách mạng. Sáng kiến và mưu trí của đồng bào là vô tận nên hầm bí mật có đủ loại: hầm dưới dất, hầm dưới giếng, hầm dưới nước, hầm trong tù, trong bồ lúa, trên máng xối, trên nóc nhà… Chiếc hầm bí mật tại nhà ông Nguyễn Văn Đạt là cơ sở Tỉnh ủy tại thị xã, cơ sở của đồng chí Hoàng Lê Kha là loại hầm trong lòng đất, hầm được đào dưới nền nhà và đặt ván lên trên. Đây cũng là hình thức bí mật để che mắt quân thù.
- Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo - khu phố 3, phường 3, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 267/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
* Về Nguồn gốc
Nguồn gốc của ngôi đền xuất phát từ bộ phận người Việt Nam sinh sống ở huyện Mimốt, Kômpông Chàm, Camphuchia. Mặc dù sống trên đất khách, quê người nhưng cộng đồng người Việt tại đây luôn hướng về cội nguồn dân tộc. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, cộng đồng người Việt ở đây đã lập nên ngôi đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo-vị anh hùng dân tộc, đã thu hút khá đông người Việt ở Mimốt đến cầu an, làm ăn thịnh vượng. Những tập tục và lễ hội dân tộc được bảo lưu gìn giữ rất tốt.
Đến năm 1970, Lon Non-Xirich Matắc được hỗ trợ của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã âm mưu đảo chính lật đổ quốc vương Sihanúc. Cuộc chiến tranh Đông dương bùng nổ, một bộ phận lớn cộng đồng người Việt ở Campuchia bị trục xuất về nước. Trong số đó, có bộ phận người Việt ở Mimốt chuyển về Tây Ninh định cư sinh sống.
Số người này cùng nhân dân vùng thị xã Tây Ninh xây dựng nên ngôi đền đức Thánh Trần phỏng theo kiểu nhà ở Bắc bộ (giống như đền thờ Trần Hưng Đạo ở Mimốt), cùng với sắc phong và tượng đức Thánh Trần để thờ cúng.
* Về Kiến Trúc:
Ngôi đền được xây dựng có 5 gian, cột gỗ tròn, xây tường gạch 3 phía, phía trước cửa gỗ, mái lợp ngói. Ở gian chính giữa trưng bày bức đại tự, hai đôi liễn (câu đối). Trung tâm thờ tượng Trần Hưng Đạo, một gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 14 tháng 8 năm 1941(âm lịch) vua Bảo Đại (năm thứ 14) đã sắc phong:
"Vâng mệnh tưởng nhớ vị thần phò dân giúp nước Trần Hưng Đạo. Xin thần linh ứng giúp dân sở tại vun trồng tại xứ Mimốt Cao Miên - nay vua ban chiếu mệnh thứ dân lập đền thờ lớn. Mong thần phù hộ, bảo vệ là dân của nước ta.
Sắc ban tuyệt đối tuân lệnh".
Ngôi đền được nhân dân địa phương thường xuyên bảo vệ và tu sửa. Đây là ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo duy nhất ở tỉnh Tây Ninh.
- Khu chứng tích cầu Quan - khu phố 2, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 268/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 
- Miếu Quan thánh Đế Quân - khu phố 4, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 271/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
* Về Nguồn gốc:
Người Hoa Phước Kiến (Quảng Đông, Trung Quốc) trong quá trình lưu tán di chuyển qua nhiều địa điểm ở đàng trong và cùng người Việt tụ cư ở thị xã Tây Ninh vào khoảng cuốI thế kỷ XVIII.
Cùng với những phong tục của người Hoa được bảo lưu- Người Hoa Tây Ninh lập thờ Quan Đế mà người Việt thường gọi là chùa Ông.
Quan Công là một nhân vật trong thời Tam Quốc (Ngô, Ngụy, Thục) ở Trung Quốc và được xem là người "VẠN CỔ NHẤT NHÂN" tượng trưng cho "ĐỨC-TRÍ-DŨNG" và được người Hoa tôn sùng lập miếu thờ nhiều nơi.
* Về Kiến trúc:
Miếu Quan Đế thành phố Tây Ninh xây dựng theo kiến trúc cổ, truyền thống Trung Hoa. Toàn bộ công trình kiến trúc khép kín theo hình chữ Quốc, dài 23m, rộng 20m (chu vi 86m). Mặt cắt dọc hình chữ nhị. Ở giữa có sân nắng (giếng trời- theo quan niệm của người Hoa). Cột gỗ tròn, vách gạch, mái lợp ngói âm dương và ngói mũi hài sơn màu vàng, đỏ.
Chính giữa miếu thờ tượng Quan Công 0,5m, theo tư thế một tay vuốt râu, một tay cầm quyển sách -Hai bên tả, hữu thờ tượng Châu Xương và Quan Bình. Hai gian bên thờ mẹ sinh, mẹ Độ và thần tài.
Gian chính được bài trí trang nghiêm và lộng lẫy bởi các đồ tự, bát bửu, lư hương và các mảng chạm khắc đều có tuổi trên 100năm.
Sân vườn trước miếu rộng, có hồ bán nguyệt, trồng sen và nhiều cây cảnh quý hiếm.
Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng và ngày 26 tháng 4 âm lịch tổ chức cúng lễ. Đông đảo cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đến cúng bái.
- Chùa Khơme-Khedon: Khedon, xã Thạnh Tân, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 117/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
- Thiên Hậu Miếu - Khu phố 4, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 125/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
- Khám đường Tây Ninh (Trại giam) - Khu phố 3, phường 2, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 126/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
- Chùa Phước Lâm - Khu phố 2, phường 1, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 245/QĐ-CT ngày 22/11/2005 của UBND tỉnh Tây Ninh 
- Căn cứ Biệt động thành phố Tây Ninh - Ấp Giồng Cà, xã Bình Minh, thành phố Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 60/QĐ-CT ngày 23/02/2007 của UBND tỉnh Tây Ninh

LỄ HỘI

Trãi qua nhiều thế kỷ, cư dân thành phố Tây Ninh có một số thay đổi về số lượng cũng như phân bố dân cư. Hiện nay trên thành phố Tây Ninh có 5 dân tộc sinh sống đó là dân tộc kinh, Khơ me,Chăm, Hoa và một số dân tộc Tà Mun sống rãi rác trên địa bàn thị xã.
Mỗi dân tộc đều giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc mình, đồng thời trong quá trình giao lưu, hòa nhập văn hóa, tín ngưỡng còn có những sắc thái tương đối đồng nhất giữa các dân tộc, mang tính riêng của địa phương.
Sau đây là một số lễ hội được tổ chức hàng năm:
- Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu
Là lễ hội dân gian. Thờ Bà Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen).
Lễ thức: Cầu nguyện, tế và tắm Bà. Tổ chức các trò chơi dân gian tại khu du lịch và diễn xướng dân gian múa mâm vàng vào ngày mùng 8 tháng giêng (âm lịch) hằng năm.
- Lễ hội chùa Ông: khu phố 4, phường 2
Là lễ hội dân gian. Thờ Quan thánh Đế Ông.
Lễ thức: Cúng tế
Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng và ngày 26 tháng 4 âm lịch tổ chức cúng lễ. Đông đảo cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đến cúng bái.
- Lễ hội Ramanđa:
Là lễ hội dân gian của người Chăm Islam. Thờ Thánh Ala, thần Mặt trời.
Lễ thức: Đọc kinh cầu nguyện ở Thánh đường, thắp nến tiển ông bà, lễ kết thúc tháng chay.
Hằng năm vào ngày mùng 3 tháng 2 (âm lịch) tổ chức hội mời lối xóm sang nhà chuyện trò.  
 
CƠ SỞ HẠ TẦNG THÀNH PHỐ TÂY NINH
 
- Tây Ninh là tỉnh miền Đông Nam Bộ có diện tích tự nhiên 4.030 km2, khí hậu, thời tiết thuận lợi, ít bị gió bão, lũ lụt lớn, mưa theo mùa rõ rệt. Thị xã Tây Ninh là đô thị trung tâm của tỉnh Tây Ninh, là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Tỉnh, có diện tích tự nhiên 140 km2 bao gồm 07 phường: phường 1, phường 2, phường 3, phường IV, Hiệp Ninh, Ninh Sơn, Ninh Thạnh và 03 xã: Thạnh Tân, Tân Bình, Bình Minh. Theo quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của Tỉnh, Thành phố Tây Ninh đến năm 2015 nâng cấp lên là đô thị loại 3
- Trên địa bàn Thành phố quản lý hiện nay có 35 tuyến đường chính có tổng chiều dài khoảng 65,95km, với kết cấu chủ yếu là bê tông nhựa và cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh. Trên địa bàn Thành phố có các tuyến đường Quốc lộ, Tỉnh lộ chạy ngang qua như: QL22B, ĐT785, ĐT784, ĐT793, Đường Trần Văn Trà,…bên cạnh đó còn các tuyến đường hẻm nối liền các tuyến đường chính nói trên với kết cấu chủ yếu là sỏi đỏ.
- Trên địa bàn Thành phố hiện có 07 cây cầu chính có tổng chiều dài là 381m gồm: cầu Trà phí, cầu Gió, cầu Quan, cầu Mới, cầu K21, cầu Thái Hòa, cầu Yết Kiêu, với kết cấu chủ yếu là bê tông cốt thép.
- Hầu hết các tuyến đường chính của Thành phố đều có đèn chiếu sáng công cộng phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân về đêm. Bên cạnh đó Thành phố cũng đang quản lý vận hành các hệ thống đèn tín hiệu giao thông, đèn cảnh báo giao thông nằm trên địa bàn.
- Từ năm 2008, Sở Xây dựng bàn giao cho Thành phố quản lý mảng cây xanh, công viên trên địa bàn. Thành phố hiện có 1.928 cây viết với tuổi thọ từ 7-10 năm. 1.787 cây dầu có tuổi thọ trung bình từ 6-8 năm. 494 cây sao. 140 cây xà cừ tuổi thọ trung bình từ 35-40 năm. Bên cạnh đó còn có các loại cây như: Bằng lăng, phượng vĩ, giá tỵ, bạch đàn, móng bò, hoàng nam, liêm, cây xanh và cỏ kiểng các loại... Các loại cây trên hiện được duy trì và phát triển tốt tạo cảnh quan, bóng mát cho Thị xã.
 
TIỀM NĂNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ; Đông giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, phía Đông Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Long An; Phía Tây và Tây- Bắc giáp tỉnh Svay-Riêng, Kông-Pông-Chàm của Campuchia. Tây Ninh có đường biên giới chung hai nước Việt Nam – Campuchia dài 240 km và hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Sa Mát và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch. 
Phân bổ diện tích, dân số thành phố Tây Ninh năm 2009
Thành phố Tây Ninh nằm ở vị trí trung tâm của Tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km theo quốc lộ 22, tỉnh lộ 782; cách biên giới Campuchia 40 km về phía Tây Bắc. Diện tích 140 km2, dân số l26.604 người, mật độ dân số 904 người/km2(năm 2009). Được tổ chức thành 7 phường, 3 xã.
 
Địa hình thành phố Tây Ninh là vùng gò tương đối bằng phẳng, khá thuận lợi cho việc tổ chức mặt bằng sản xuất, xây dựng các công trình. 
Đặc biệt, phía Bắc thành phố Tây Ninh có núi Bà Đen, là ngọn núi cao nhất Nam Bộ (986m). Khí hậu nóng ẩm nhưng ôn hòa, hiếm khi có bão lụt.
Núi Bà Đen có nhiều di tích cổ và di tích lịch sử cách mạng, là địa điểm du lịch truyền thống lâu đời của Tây Ninh, nay đã có quy hoạch chi tiết phát triển ngành du lịch; quy hoạch khai thác nguồn khoáng sản (đá granit trữ lượng khoảng 1.400 triệu m3, đá ong, sỏi đỏ trữ lượng khoảng 5 triệu m3) sử dụng trong xây dựng và giao thông.
Đường bộ: hội tụ nhiều tuyến đường liên tỉnh quan trọng nối kết các trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch thuận lợi cho thành phố Tây Ninh trong giao lưu liên kết phát triển nhiều mặt. Đặc biệt tuyến xe bus Thành phố đi: Gò Dầu; Cửa khẩu Mộc Bài, Núi Bà, Khu Kinh tế cửa khẩu Xa-Mát - Tân Biên… đã góp phần phát triển giao thông công cộng, văn minh đô thị.
Tây Ninh là một trong 15 tỉnh, thành phố thuộc Trung ương đã tự cân đối được ngân sách và thực hiện nghĩa vụ với Trung ương. 
Phương hướng phát triển của Tây Ninh trong thời gian tới gắn liền với phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong những vùng kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và giữ vai trò quyết định đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của cả nước .
Đẩy mạnh dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng, cơ cấu ngành, lĩnh vực, tập trung khai thác lợi thế so sánh, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững .
Tiếp tục đẩy mạnh thu hút dđầu tư (tăng cường huy động nguồn vốn trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài), khai thác các lợi thế, đẩy nhanh chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng trong tỉnh :
+ Các huyện phía Nam tỉnh (Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu) theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài và các dịch vụ dọc theo đường Xuyên Á.
+ Các huyện phía Bắc (Tân Biên, Tân Châu, Châu Thành, Dương Minh Châu) tập trung chuyển đổi cây trồng vật nuôi, ổnn định vùng nguyên liệu cây công nghiệp cho các nhà máy chế biến và thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nông thôn trên cơ sở khai thác tốt lợi thế cửa khẩu, Khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát và Nhà máy xi măng 
Đối với Thành phố Tây Ninh phát triển nhanh và nâng cao chất lượng các hoạt động thương mại du lịch ,dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống , tập trung chỉnh trang ,xây dựng đô thị văn minh, hiện đại.
Phấn đấu đến 2010, tỷ trọng trong GDP của các ngành nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 28 -32 - 40; GDP bình quân đầu người 1.000 USD, phấn đấu đến năm 2020 Tây Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển bền vững .
Để nhanh chóng xây dựng và phát triển thành phố Tây Ninh đạt được các mục tiêu đã đề ra, Thành phố đang tìm kiếm và thu hút các nguồn lực bên ngoài về vốn, nhân lực, khoa học kỹ thuật, kể cả đầu tư nước ngoài. Đẩy mạnh đầu tư-phát triển kinh tế, xã hội theo hướng đô thị mở. 
 
KHU DU LỊCH – DANH THẮNG.

Các khu du lịch danh thắng của Thành phố:
-- Khu du lịch Núi Bà Đen.
-- Khu du lịch sinh thái Ma Thiên Lãnh, Núi Bà, xã Thạnh Tân, Tp. Tây Ninh.
-- Khu du lịch sinh thái Bến Trường Đổi, Phường 1,Tp.Tây Ninh.
-- Khu du lịch thương mại Phường IV, Đường CMT8 Phường IV thành phố Tây Ninh.
-- Khu Trung Tâm Dịch vụ Thương mại thành phố Tây Ninh đường 30/4 thành phố Tây Ninh (Khu quân y cũ).
-- Khu Dịch vụ Thương mại, Đường Võ Văn truyện Phường 2 thành phố Tây Ninh (Bến xe chợ cũ).
-- Khu du lịch sinh thái Long Điền Sơn ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn thành phố Tây Ninh.